Những câu chúc tết (2010)

Lời chúc tết hay nhất dành cho năm mới

☆☆░░▓▓▓▓▓░░░░▓▓▓� �▓░░░▓▓░░░░▓▓▓▓▓░� ��░♫░░☆☆
☆☆░░░♫░░▓▓░░▓░░♥� �░▓░▓▓▓░░░▓░░♥░░░� ��░░░♥░☆☆
☆☆░♫░♥░░▓▓░░▓░♫░� �░▓░░░▓░░░▓░░♫░░▓� ��░░♫░☆☆
☆☆░♫░░▓▓░░░░▓░░░� �░▓░░░▓░░░▓░░░♫░▓� ��♫░░░☆☆
☆☆░░░▓▓░░░♥░▓░♫░� �░▓░░░▓░░░▓░♫░░░▓� ��░░♥░☆☆
☆☆░░▓▓░♫░♫░░▓░░░� �░▓░░░▓░░░▓░░♫░░▓� ��░♫░░☆☆
☆☆░░▓▓░░░░♥░▓░░░� �░▓░░░▓░░░▓░░░░░▓� ��░░░░☆☆
☆☆░░▓▓▓▓▓▓░░░▓▓▓� �▓░░░▓▓▓░░░▓▓▓▓▓░� ��░♫░░☆☆

CUNG kính mời nhau chén rượu nồng
CHÚC mừng năm đến, tiễn năm xong
TÂN niên phúc lộc khơi vừa dạ
XUÂN mới tài danh khởi thỏa lòng
VẠN chuyện lo toan thay đổi hết
SỰ gì bế tắc thảy hanh thông
NHƯ anh, như chị, bằng bè bạn
Ý nguyện trọn đời đẹp ước mong
*****************************
╔╗╔╗╔══╗╔══╗╔══╗� �╗╔╗
║╚╝║║══║║══║║══║� �╚╝║
║╔╗║║╔╗║║╔═╝║╔═╝� �═╗║
╚╝╚╝╚╝╚╝╚╝ • N E W Y E A R 2 0 1 0
*****************************

Năm mới là thời gian của gia đình, của hạnh phúc, của những lời chúc phúc. Hãy dành tặng cho người thân và bạn bè những lời chúc đặc biệt nhất. Những lời chúc hay, dí dỏm và độc đáo sẽ làm cho người được chúc cảm thấy vui vẻ hơn, thoải mái hơn và ấm áp hơn khi mùa xuân về!

1. Kính chúc mọi người một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc. Vui trong sức khoẻ, trẻ trong tâm hồn, khôn trong lý tưởng, trưởng thành trong… tất cả mọi lĩnh vực…

2. Chúc mọi người khoẻ như hổ, sống lâu như rùa, mắt tinh như đại bàng, nhanh nhẹn như thỏ, tinh ranh như cáo, ăn nhiều như … heo, mau ăn chóng nhớn, tiền vô như nước, phúc lộc nhiều như dịch châu chấu tràn về.

3. Mùa xuân xin chúc – Khúc ca an bình – Năm mới phát tài – Vạn sự như ý – Già trẻ lớn bé – Đầy ắp tiếng cười – Trên mặt ngời ngời – Tràn đầy hạnh phúc – Xuân đến hy vọng – Ấm no mọi nhà – Kính chúc ông bà – Sống lâu trăm tuổi – Kính chúc ba mẹ – Sức khoẻ dồi dào – Đôi lứa yêu nhau – Càng thêm nồng ấm – Các em bé nhỏ – Học giỏi chăm ngoan – Chúc Tết mọi người – Năm mới hoan hỉ – Gặp nhiều niềm vui…

4.
Năm mới chúc nhau sức khỏe nhiều
Bạc tiền rủng rỉnh thoải mái tiêu
Gia đình hạnh phúc bè bạn quý
Thanh thản vui chơi mọi buổi chiều.

5. Mùa Xuân này có nhiều người hỏi thăm và muốn ghé đến nhà bạn. Họ tên là Hạnh phúc, May mắn và Thịnh Vượng. Hãy mở cửa đón chào họ nhé!

6. Sang năm mới chúc mọi người có một bầu trời sức khoẻ, một biển cả tình thương, một đại dương tình cảm, một điệp khúc tình yêu, một người yêu chung thủy, một tình bạn mênh mông, một gia đình thịnh vượng. Chúc các bà, các ông, các cô, các chú, các chị, các anh sang năm mới vạn sự như ý, tỷ sự như mơ, làm việc như thơ, đời vui như nhạc, coi tiền như rác, coi bạc như rơm, chung thủy với cơm và sắc son với phở.

7. Chúc mừng năm mới. Chúc 365 ngày hạnh phúc 52 tuần như ý 12 tháng an vui 8.760 giờ thoải mái 52.600 phút may mắn và 1 Năm mới an khang thịnh vượng – phát tài phát lộc.

8. Năm mới Tết đến. Rước hên vào nhà. Quà cáp bao la. Mọi nhà no đủ. Vàng bạc đầy hũ. Gia chủ phát tài. Già trẻ gái trai. Sum vầy hạnh phúc. Cầu tài chúc phúc. Lộc đến quanh năm. An khang thịnh vượng.

9.
Mừng năm mới phát tài phát lộc
Tiền vô xồng xộc, tiền ra từ từ
Sức khoẻ có dư, công danh tấn tới
Tình duyên phơi phới, hạnh phúc thăng hoa
Xin chúc mọi nhà một năm ĐẠI THẮNG!

10.
Giao thừa sắp đến
Chúc bạn đáng mến
Sự nghiệp tiến lên
Gặp nhiều điều hên
Gia đình hạnh phúc.

11.
- :•.(¯`°´¯).• ¤*•,¸.¸,¤*•,¸.¸, •*¤*•,¸.CHÚC MỪNG NĂM MỚI,•*¤*•,¸.¸, •*HAPPY•*HAPPY NEW YEAR *•,¸.¸,•*¤*•,¤*•,¸.¸ ,•*¤*•,¸.,•*¤*•,¸.¸, •*?,•*¤*•,¸.,•*¤*•,¸ .¸,•*?*¤*•,¸.¸,•* ..^^..

12.
CUNG chúc tân niên một chữ nhàn
CHÚC mừng gia quyến đặng bình an
TÂN niên đem lại niềm hạnh phúc
XUÂN đến đầy nhà ắp an khang.

13.
Đầu xuân năm mới chúc BÌNH AN
Chúc luôn TUỔI TRẺ chúc AN KHANG.
Chúc sang năm mới nhiều TÀI LỘC
Công thành danh toại chúc VINH QUANG.

14. Today 3 people ask me about you. I gave them your details and contact. They’ll be finding you soon. Their names are Happiness, Wealth and Love. Cheers – Happy New Year”. (Hôm nay có 3 người hỏi tôi về bạn và tôi đã giúp để họ tìm đến với bạn ngay. Tên của 3 người ấy là Hạnh phúc, Thịnh vượng và Tình yêu)

15.
Chúc nhau sống khỏe như trâu
Sống dai như đĩa, sống lâu như rùa
Tiền tài danh vọng từa lưa
Gia đình đầm ấm cho vừa lòng nhau

Chúc thuyền trôi dạt bao lâu
Tìm ra bến đỗ bên nhau trọn đời
Thuyền ai còn lững lờ trôi
Ghé vào bến ấy cho vơi bớt sầu

Chúc người xa xứ bao lâu
Một mùa xuân mới thắm bầu quê hương
Dù cho cách trở đôi đường
Quê hương vẫn mãi ngọt đường mía lâu

Chúc em nhanh chóng qua cầu
Tuy rằng trơn trượt nhưng cầu dễ đi
Mong em chẳng ngại ngùng chi
Bên kia có kẻ ngu xi đợi chờ

Chúc kẻ khờ mãi ngu ngơ
Đời là bể khổ đừng vơ thêm vào
Thông minh có được chi nào
Chỉ thêm phiền phức ruớc vào không hay

Chúc mình năm mới gặp may
Nhà ai vẫn mãi bóng ngây đợi chờ
Tuy rằng năm trước thờ ơ
Năm nay phải ráng qua vơ được nàng

Chúc mọi người đẹp như hoa hồng
Thành công như Cúc
Hạnh phúc như hoa Mai
Phát tài như hoa Pháo
Độc đáo như hoa Lan
An khang như hoa Huệ
Trí tuệ như hoa Sen

Xem thêm những câu chúc ngày tết khác: http://my.opera.com/phamlam/blog/2007/01/31/202
Tìm hiểu thêm về ngày tết Việt Nam: http://my.opera.com/phamlam/blog/index.dml/tag/Góc%20Tết

Tết Việt Nam qua ca dao, tục ngữ

Từ trước đến nay, chưa thấy sử sách nào định rõ lễ Tết của nước ta bắt đầu khi nào, chỉ hiểu rằng nó có từ rất xa xưa. Tết là do chữ tiết mà ra vì chính lúc ấy là Tết nguyên đán.

Ta có câu ca ghi cái Tết thời xưa như sau:

Một tết chưa đủ sạch nhà
Phải nhiều cái tết mới là no nê.
Tết Trần, Tết Lý, Tết Lê
Hơn trăm cái Tết ai chê tết nào.

Rồi mời các bạn đọc thêm mấy câu nữa, đã đề cập đến cái tết của một thời kỳ.

Tết Trung Quốc tràn sang Nam Việt
Đất Hoa Lư chưa biết tre nêu.
Một mai tre đổ nhà xiêu
Chỉ còn sông trắng con diều lượn bay.

Và dưới đây, một bài tứ tuyệt về tết, có giá trị tài liệu lịch sử:

Hồng Bàng trăm tết diễn trăm nơi
Thiên hạ vui thay rượu ngập trời.
Nhưng đến Dương Vương cùng họ Triệu
Tết buồn như gió, pháo như hơi.

Theo sách “Le Khmer, thì trước kia dân ta ăn Tết theo Tàu, ta đã có thời gian ăn Tết theo Chiên Thành. Tết này bắt đầu vào tháng 2 âm lịch, có đủ lễ lạc vui chơi, hát xướng, chè rượu trong ba ngày liên tiếp, cũng đi viếng thăm nhau, và cũng kiêng cữ nhiều điều. Trong mấy ngày ấy, dù gặp kẻ thù, người ta cũng chào và chúc mừng nhau. Vì theo tục lệ người Chiêm thì ngày ấy là ngày xóa hờn, xóa giận. Cái tục đầu năm lên chùa hái lộc, dân ta vẫn còn giữ. Những sách khảo cứu về dân tộc Chăm, có đề cập đến tục lệ ấy.

Kiêng cữ:

“Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”
Hai câu ca dao đó chỉ rõ phong tục kiêng trong ba ngày tết như không mua vôi ngày đầu năm. Vì vôi có nghĩa là bạc bẽo. Nhưng đầu năm họ mua muối, có ý đằm thắm mặn nồng. Khi lễ giao thừa xong mọi người ngồi chờ nghe coi con vật gì kêu trước tiên. Nếu được nghe tiếng chuột thì may mắn, vì chuột kêu “túc túc” là có đầy đủ, nếu là tiếng mèo hay tiếng cú là không may vì dân ta có câu “Mèo kêu rậm rú, cú kêu rậm ma”. Trước kia còn nhiều điều kiêng cữ gay gắt nữa. Tối ba mươi mọi gia đình nhúm một ngọn lửa và phải giữ cho ngọn lửa ấy cháy liên tục trong ba ngày, nước cũng phải dự chữ đủ trong 3 ngày, nhất là lu nước luôn đầy. Ba ngày tết không hề chẻ một cây củi, không quét một nhát chổi nào, có gia đình còn giấu kín cây chổi đi một nơi, vì chổi mà mất thì bao nhiêu tiền bạc bị quét ra khỏi nhà.

Đoán mộng ngày tết:

Trong đêm ba mươi Tết, nằm chiêm bao thấy gì, cứ theo đó mà đoán:
“Đoán mộng thì đoán ngược – Lội nước tức lên non.
Thấy còn thì chắc mất – Tưởng trật ắt trúng nhiều.
Xem xiêu thì đoán đúng – Trông cứng thì hẳn mềm.
Muôn sự được êm êm – Là khi quên chuyện mộng”.

Bói tết:

Lối bói có nhiều cách. Bói bằng cách lắc ống xăm, ở các nhà chùa, miếu trong Nam Bộ là thông dụng nhất, không mấy ai mà không biết tục lệ này. Trước đây, dân Thành phồ Hồ Chí Minh thường đi xin xăm ở “Lăng Ông Bà Chiểu”, phần đông là người Trung Quốc.

Bói Truyện:

Thường dùng những quyển Kim Vân Kiều, Lục Văn Tiên, Nhị Độ Mai, miệng khấn khứa rầm rầm rồi lật một trang ra, chỉ vào một hàng chữ sẽ nương theo nghĩa câu ấy hoặc đoạn chuyện có câu ấy mà đoán vận mạng mình trong cả năm.

Bói lửa:

Đêm ba mươi, bắc nồi lên bếp, rồi cứ trông ngọn lửa cháy thế nào thì đoán theo mấy câu dân ca này:

“Ông táo bằng đất – Ông phật bằng vàng – lửa cháy xuê xoang – là điềm vui vẻ – củi hay nắc nẻ – là điềm gây nhau -lửa trước lửa sau – là điềm tụ họp…”

Bói đò:

Đầu năm qua sông, bói đò theo mấy câu dân ca này:
“Hể đò xây mũi thì hay – Thiên hạ tiếp rước đủ đầy cả năm.
Quay lại thì bị tiếng tăm – Làm ăn không được đứng nằm không yên.Đò xa thì triệu ưu phiền – Đò gần thì sướng như tiên trên trời”

Bói tuồng:

Đầu năm đi xem hát ở rạp, khi vào gặp vai nào thì đoán mệnh mình trong năm theo vận hạn của vai ấy. Gặp vai nịnh thì được sung sướng trước, nhưng cực khổ về sau. Gặp người trung thì tuy có gian nan, nhưng có quý nhân phò trợ và được ấm êm hạnh phúc.

Bói người: Đầu năm đi đường gặp ai trước hết tùy theo người ấy mà đoán điều. Gặp đàn bà là điều không tốt, nhưng đàn bà có gánh trên vai lại là điềm hay.”Đầu năm gặp đàn bà không gánh – thì thà bị trời đánh còn hơn”.

Bói ông táo:

Đầu năm có lệ thay ông Táo mới và bắc nồi nước trà lên nấu trước tiên. Khi nấu xong đem nồi xuống, cứ coi theo hình ba ông Táo, nếu ngã ngửa ra thì ấy là tiền chĩa ra, ba ông dụm đầu vào là bao sự vui vẻ đoàn tụ, đầu ba ông bằng nhau ra điềm an ủi đề huề.

“Gục đầu lại vui như ca, ngã đầu ra buồn như chết”.

Theo Văn hóa nghệ thuật ăn uống

Đốt đèn trời, nên hay không?

Giao thừa sắp đến rồi, ra đường năm nay thấy bán rất nhiều đèn trời. Thả đèn trời được xem là gửi gắm những ước nguyện nhưng rất ít người biết rằng thả đèn trời tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ rất cao. Dưới đây là một bài viết của báo Công an Nhân Dân mà mình thiết nghĩ mọi người nên đọc.

Những chiếc đèn thả ở quảng trường nhà hát thành phố Hải Phòng, gặp gió Đông Bắc thì rơi xuống rừng sinh thái Kiến An, nếu gặp gió Đông Nam thì rơi xuống các kho xăng dầu, gas và hóa chất. Có đêm giao thừa, 15 chiếc đèn trời đã rơi xuống tổng kho xăng dầu Thượng Lý, trong đó nhiều chiếc vẫn còn đang… rực lửa!

Tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ

Đèn trời là sản phẩm văn hoá độc đáo có từ hàng trăm năm nay. Trong đó, tỉnh Thái Bình được xem là nơi khởi nguồn và sau đó phát triển ra một số địa phương ở đồng bằng Bắc Bộ. Đèn trời được các nhà văn hoá xếp vào hạng mục trò chơi cổ, thuộc loại giải trí trí tuệ.

Nguyên tắc chung của đèn trời giống như khinh khí cầu cổ. Người ta làm một lồng kín bằng chất liệu giấy, vải. Bên dưới có một khay bấc, cháy nhờ mỡ. Khi ngọn lửa đáy lồng được đốt lên, không khí ở ngoài lùa vào từ dưới đẩy chiếc đèn bay lên cao. Cho đến khi lửa tắt, đèn lồng mới rơi xuống. Thường người ta thả đèn trời vào ban đêm, chỉ cần vài chục chiếc bay lên không trung, bầu trời trở lên lung linh, trong sáng khác thường.

Chỉ có điều trước đây, thắp và thả đèn trời, người chơi phải chọn lọc đèn đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, xác định đúng hướng gió rồi mới đem ra bãi đất trống thả, để đèn không rơi vào những cánh rừng và làng mạc gây hỏa hoạn.

Ngày nay đèn trời vẫn đang tồn tại song hành với các trò chơi hiện đại trong các dịp lễ Tết, song yếu tố an toàn lại bị xem nhẹ. Trên địa bàn thành phố Hải Phòng, đèn được bán nhiều ở các phố Cầu Đất, Nguyễn Đức Cảnh. Các chủ kinh doanh đều nói là đèn được đưa từ Thái Bình ra.

Tuy nhiên, phần lớn trong số này không rõ nguồn gốc, sản xuất không đúng kỹ thuật. Có chiếc đèn dùng giẻ xăng dầu để đốt, có chiếc còn dùng cả lốp xe ôtô làm nguyên liệu cháy nên khi thắp lửa, đèn không bay lên cao, mà lượn là là tầm vài chục mét. Thậm chí, lửa đốt cả lồng thành một ngọn đuốc rồi rơi xuống.

Cũng tại Hải Phòng, thời gian qua, do việc thả đèn trời vô tổ chức đã gây ra nhiều vụ cháy, uy hiếp sự an toàn của thành phố. Những chiếc đèn thả ở quảng trường nhà hát thành phố, gặp gió Đông Bắc thì rơi xuống rừng sinh thái Kiến An, nếu gặp gió Đông Nam thì rơi xuống các kho xăng dầu, gas và hóa chất ở thượng nguồn Sông Cấm.

Theo báo cáo của Công ty Xăng dầu khu vực III, thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam, đêm giao thừa đón Xuân Đinh Hợi, 15 chiếc đèn trời đã rơi xuống Tổng kho Xăng dầu Thượng Lý (Hải Phòng), trong đó nhiều chiếc vẫn còn đang… rực lửa! Lực lượng chữa cháy tại chỗ và công nhân ở đây phải hết sức cố gắng mới kịp thời dập tắt và tránh được sự cố cháy nổ đáng tiếc ở các kho xăng dầu.

Theo thống kê chưa đầy đủ của Phòng Cảnh sát PCCC, Công an thành phố, dịp Tết Nguyên đán Mậu Tý – 2008, trong số 10 vụ cháy lớn trên địa bàn thành phố, thì 3 vụ do nguyên nhân thả đèn trời (trong đó có 2 vụ cháy 6.000m2 rừng Kiến An và vụ cháy bãi phế thải của Công ty Da giày Hải Phòng)…

Theo Công an Nhân dân

Câu đối tết

Nâng chén trà xuân câu uóng nước nhớ nguồn đừng sao nhãng
Nhấp ly rượu tết chữ đền ơn đáp nghĩa chớ nhạt phải

Lộc biếc, mai vàng, xuân hạnh phúc
Đời vui, sức khỏe, Tết an khang

Xuân an khang đức tài như ý
Niên thịnh vượng phúc thọ vô biên

Giữ lòng thanh bạch, theo lẽ công bằng, sống đời nhân ai
Nêu tính kiên trung, tỏ lời thẳng thật, thương kẻ bần hàn

Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ
Nhân ư bách hạnh hiếu vi tiên
(Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa Xuân;
Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết)

Có là bao, ba vạn sau ngàn ngày, được trăm cái Tết
Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa xuân

Tối ba mươi, giơ cẳng đụng cây nêu! Ủa! Tết!
Sáng mồng một, lắng tai nghe chúc! Ồ! Xuân!

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh

Tân niên hạnh phúc bình an tiến
Xuân nhật vinh hoa phú quý lai
(Năm mới hạnh phúc bình an đến
Ngày Xuân vinh hoa phú quý về)

Ủa! Tết đến rồi đó, chẳng lẽ trơ cùi cùng tuế nguyệt
Kìa! Xuân sang đấy ư, thôi đành mở múi với giang sơn

Già trẻ gái trai đều khoái Tết
Cỏ cây hoa lá cũng mừng Xuân

Đêm ba mươi nghe tiếng pháo nổ… Đùng!… ờ ờ … Tết
Sáng mùng một ra chạm niêu đánh… Cộc!… á à… Xuân

Trời thêm tuổi mới, người thêm thọ
Xuân khắp mọi nơi, phúc khắp nhà

Hạt nếp trắng, lá chuối xanh, bánh tét đậm đà hương vị Tết
Hoa mai vàng, câu đối đỏ, ra đường rạng rỡ cảnh tình Xuân

Đón Tết tha hương, nhắc nhở cháu con lời đạo đức
Vui Xuân đất khách, hàn huyên bè bạn chữ tu thân

Đêm ba mươi, đếm tờ lịch, ba mươi tờ buồn xa tháng cũ
Sáng mồng một, ngắm cành mai, đơn một cành vui đón năm mới

Xuân vẫn còn dài, hướng đến tương lai vùng đất mới,
Tết dù đã ngắn, quay nhìn dĩ vãng cảnh người xưa.

Ngào ngạt mùi hương, dẫu tại đất người, không mất gốc,
Lung linh ánh lửa, dù xa quê cũ, chẳng quên nguồn

Ðấp gốc cây cao, Tết đến thắp hương thơm đèn sáng,
Khơi nguồn nước mát, Xuân về dâng trái ngọt hoa thơm.

Phước thâm tự hải
Lộc cao như sơn
(Hạnh phúc nhiều sâu như biển
Của cải nhiều cao như núi)

PhamLam sưu tầm và tổng hợp từ Internet

Khai phím 2008

Phố đã vào xuân mưa bụi bay
Hoa đào khoe thắm sắc xuân này
Ngẩn ngơ ra ngõ nhìn xuân tới
Vào nhà nâng chén túy lúy say

Em nói em cười trong gió xuân
Môi hồng má thắm đẹp muôn phần
Em làm lòng anh chao đảo quá
Men rượu hay là say em đây

Tết đến xuân về náo nức đông
Người đi trên phố đón xuân nồng
Khẽ khàng em nép sau lưng áo
Tay trong tay anh… phố mùa đông

Phạm Lâm xuân 2008

Văn hóa Tết

Một trong những sức mạnh lạ lùng của ngày tết Nguyên đán là nó mang lại cái đẹp cho mỗi con người, khiến con người cảm thấy niềm vui, hạnh phúc, hy vọng…

Gói bánh chưng Tết ở làng

Và cũng với sức mạnh ấy, hình như Tết cũng ngầm bắt mỗi con người phải tự làm đẹp cho mình, làm vui lòng người khác, đem hy vọng đến cùng xung quanh, nghĩa là cũng phải góp cái đẹp riêng của mình vào cái đẹp chung.

Cái đẹp ấy không chỉ là cỗ bàn, cái ăn hớp uống, mà nó tỏa ra như sức nóng của ngọn lửa, chỉ nhìn thấy ngọn lửa chứ không thể nhìn thấy sức nóng, vậy mà vẫn cảm nhận được sức nóng lan vào từng tế bào, trên da thịt và sâu thẳm trong lòng. Ngày nay, ta gọi cái đẹp ấy là văn hóa.

Xưa nay hình như chưa bao giờ có ai đứng trước bàn thờ lại chỉ chắp tay suông mà không châm lên nén nhang tỏa khói thơm ngan ngát.

Tết là dịp con cháu nhớ đến tiền nhân, tiên tổ, ông bà đã có công mở ấp lập làng, đã có công truyền lại dòng giống thịt xương… Thì tuần trước ta đi tảo mộ, đắp lại vạt cỏ xanh, san chỗ đất lún rồi thắp tuần nhang… và hôm nay trong ấm cúng gia đình, nén nhang bảng lảng hồn xưa, con cháu tỏ lòng thành kính, biết ơn… là cái đẹp nghìn đời, là nét văn hóa được đắp bồi phồn thịnh.

Đã có một thời người ta quá trớn phá bỏ đình chùa, bàn thờ… nay tỉnh lại mới thấy đó là dại dột và ta đang phải trả giá cho những giá trị tinh thần (nghĩa là văn hóa) phải xây dựng lại, phải bồi trúc như đắp lại cái móng cái nền cho ngôi nhà nếu không muốn nó bị xiêu vẹo và có nguy cơ sụp đổ.

Tết là sum họp, bởi không có cuộc chia ly, người đi kẻ ở, kẻ khuất người mong mà vui vẻ được, chỉ có sum vầy đầm ấm mới thân thương ngọt lành tình cảm, mà tết chính là cần ngọt lành như thế, cho nên mẹ ta đã mỏi mắt chờ con từ đầu tháng chạp, nhắc đứa con xa từng ngày từng buổi, dõi theo bóng nắng bên thềm, nghe từng hồi còi tầu phía xa xa, đợi con chim khách về trên cành bưởi cành na… Nếu năm ấy ta là người khách lang thang như thơ Thế Lữ:

Rũ áo phong sương trên gác trọ
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang…

thì không hiểu kẻ xa nhà, vô thân tứ cố ấy buồn hơn hay mẹ già quê cũ mong mỏi thảm hơn?

Tết, có thể nào thiếu hoa tươi. Xưa nay hoa cũng như người con gái, mang cái đẹp đến cho đời. Trái đất không tồn tại nếu không có những người giới nữ đem niềm vui, hạnh phúc, hy vọng, phấn khích, say mê, hồi hộp, thì tết cũng không thành tết nếu thiếu một nhành hoa.

Nông thôn Việt Nam vốn nghèo nên tiết kiệm, hoa tươi không phải cho tất cả mọi người. Tết đến, cành hoa bằng giấy, có lấp lánh trang kim, cành hoa bằng lông gà nhuộm xanh nhuộm đỏ, cắm trên bàn thờ hết mùa xuân mới bạc đi vì bụi bặm, đã thành quen thuộc ở nhiều nơi.

Nhà khá giả, nhiều người quen, mới đi xin được một nhánh hải đường lóe sáng ngọn nến hồng trong kẽ lá, hoặc cành vạn thọ viền nhung hay dăm gốc huệ đơn sơ cắm trên bàn thờ mấy ngày năm sớm. Có lẽ chỉ thành phố mới có điều kiện chơi hoa tươi như một cái thú kỳ tình.

Miền Nam có loài mai vàng là thứ cây dại nguyên gốc rừng Trường Sơn, cánh mỏng lung linh như bướm vờn, hoa nhụy thơm như có như không đầy trêu cợt, ít có gia đình nào ở các thành thị phương Nam không có một mai vàng đón Tết.

Còn phía Bắc lại đông đúc sắc hoa đào, từ thứ đào ta trên biên giới chờ làm quả tháng 5, bây giờ hoa lấn cả màu sương, cho đến “dinh đào” Nhật Tân, Phú Thượng, hàng triệu gốc đào bích, đào phai mà Sài Gòn, Hồng Kông một thời phải đưa máy bay ra đón.

Không gia đình Hà Nội nào lại thiếu hoa đào chơi Tết. Đào bích mập mạp, hoa kép nhiều cánh thắm, đào phai lơ đãng hồng hồng, giấu cái nồng nàn vào bên trong, ẩn cái thắm thiết nơi sâu thẳm…

Đôi khi quý hiếm có một vài đào bạch lạc vào chợ hoa hàng Lược trần gian. Lại còn hoa Lý trắng ngần mà nhiều người gọi nhầm là cành mai. Thực ra, không có mai đang hoa đem bán bao giờ, vì nó quý, nó thanh, nó hiếm.

Lời nói đẹp làm đẹp lòng người nghe, làm vui lòng người nói. Bà mẹ chồng dịu ngọt thì cô con dâu chẳng thể lăng loàn. Ta nói lời chúc mừng với khách xông nhà thì chỉ có lời tốt tươi đáp lại.

Xưa có câu “Lời chào cao hơn mâm cỗ”. Lời ngày tết còn cao gấp bội lời chào ngày thường, nó thiêng liêng, ấm áp, nó cởi mở chân tình, từ lời con cháu chúc tụng ông bà cha mẹ kính cẩn một niềm, đến lời ông bà cha mẹ chúc con cháu sang năm mới học hành tấn tới, thành đạt công danh… cho chí một kẻ không may bị lỡ độ đường không kịp về nhà, đến trước cửa nhà ta mong một niềm an ủi…

Từ một câu nói đến một thế ngồi, dáng đứng, một cách nâng chén đến bàn tay cầm đũa… hình như mùa xuân có phép lạ vô hình, uốn nắn cho mỗi con người phải mang chất văn hóa ẩn tàng trong đó, tránh xa cái xô bồ, bỗ bã, bỏ đi cái tục tằn cợt nhả nơi sân ga quán chợ ngày thường.

Không ai có thể cài cái cúc trên vào khuyết dưới để đi chúc tết. Không ai để nguyên đôi bàn tay dính đầy đất cát, dầu mỡ ngồi vào mâm cỗ tết và say nhè bí tỉ ngã lăn xuống nền nhà.

Dù là cái nắng chang chang Nam Bộ hay cái rét ngọt sông Hồng, mùa đông đã qua, xuân sớm đang về đều chung một cội nguồn văn hiến bốn nghìn năm, vẫn lâng lâng nâng ta lên trong cái đẹp, nay gọi là văn hóa.

Nhà văn Băng Sơn
Báo Văn hóa
Theo Tiền Phong

Văn hóa Tết và Tết văn hóa

Tết là một sinh hoạt văn hoá cổ truyền quan trọng – nếu không nói là quan trọng nhất của người Việt ở đồng bằng. “Năm hết Tết đến”, mọi công cuộc làm ăn – sản xuất – trước hết là sản xuất nông nghiệp – đều dần dần giảm thiểu đến mức tối đa – thậm chí ngày trước có khi tạm ngưng hẳn – để đổ dồn cho việc sửa soạn cái Tết, tắm mình trong không khí Tết, hưởng thụ Tết, sinh hoạt Tết rồi thư dãn sau Tết. “Ra Giêng ngày rộng, tháng dài…”

Chúng ta cùng nhau tiếp cận cái Tết cổ truyền dưới góc nhìn văn hoá học và sự biến đổi của Tết trong bối cảnh đời sống mới, văn hoá mới…

Tên gọi và định nghĩa – phân loại

Một cách chặt chẽ, Tết bắt đầu từ ngày mồng Một tháng Giêng đầu năm mới theo lịch cổ truyền mà ta quen gọi là Âm lịch – thật ra là Âm – Dương hợp lịch, vì “Tháng” được tính theo trăng (từ “mồng một lá trai, mồng hai lá lúa – đến ba mươi không trăng), còn “24 tiết” trong năm được định theo mặt trời; ấy là không kể lịch -còn được điều chỉnh theo sao, “nhật – nguyệt – tinh” đều được tham chiếu để làm lịch, đó không phải là lịch thuần Âm hay thuần Dương.

Tết là ngày đầu năm mới, trước hết và quan trọng nhất là “mồng Một”, rồi bao hàm cả “3 ngày Tết” (từ mồng Một đến mồng Ba). Nhưng, trong ngôn ngữ cổ truyền của người Việt, bắt đầu từ 23 tháng Chạp năm cũ, người ta gọi là “23 Tết” (ít ai gọi là 23 tháng Chạp), cứ thế kéo dài đến “30 Tết” (30 tháng Chạp). Đêm ấy – hay nửa đầu đêm ấy – được coi là tối tăm nhất trong năm – “tối như đêm Ba Mươi Tết, dầy như đất” – Và “ông Hùm” được bảng giá trị cổ truyền coi là thế lực đáng sợ nhất, tối tăm nhất nên lại được gọi một cách tượng trưng – văn hoá là “ông Ba Mươi”. “30 Tết”, qua “Giao thừa” lại được gọi là “Mồng Một Tết” rồi “Mồng Hai Tết” v.v cho đến ít nhất là “Mồng Bảy Tết” v.v

Thật ra lễ lạt đầu năm mới được gọi thu gọn là Tết chứ nếu gọi một cách đầy đủ thì dân gian nói là Tết Cả hay gọi theo “tên chữ” (Hán – Việt) là Tết Nguyên Đán. Nguyên là “đầu tiên”, Đán là “buổi sớm”. Theo nguyên nghĩa, “Nguyên đán” là buổi sớm đầu tiên của ngày đầu tiên của tháng đầu tiên của năm mới. Vậy “Tết Nguyên đán” là “Tết đầu năm mới”.

Còn Tết Cả nghĩa là Tết hàng đầu, Tết đứng đầu, Tết to nhất và quan trọng nhất. Với tên gọi ấy, trong tâm thức dân gian đã tiềm ẩn cái ý là sau Tết Cả, có những tết khác, “Tết con”, Tết không to bằng, không quan trọng bằng Tết Cả.

Mà quả vậy. Dân ta còn gọi nhiều lễ lạt nữa trong năm là “Tết”, thí dụ “Tết mồng ba tháng Ba” (Hàn thực hay “tiệc bánh trôi”), “Tết Đoan Ngọ” (mồng 5 tháng 5), Tết “Trung thu” (Rằm tháng Tám), “Tết cơm mới” (Thường tân, mồng 10 tháng 10 hay mồng 1 tháng 10 tuỳ vùng).

Vậy thì trong lịch lễ lạt cổ truyền, có Tết Cả hay Tết Nguyên đán và những cái Tết khác trong năm, Tết con, Tết nhỏ. Nói theo ngôn ngữ trí tuệ hôm nay có 1 cái Tết (viết hoa) và nhiều cái tết (viết thường).

Vậy Tết theo nghĩa rộng bao hàm những định kỳ lễ lạt trong năm, quanh năm. Tết nhân văn vẫn nương theo thời tiết tự nhiên chuyển vần theo mùa vụ một năm, chẳng hạn tết Đoan Ngọ là khoảng trước sau ngày Hạ chí, tết Cơm mới ở khoảng tiết Đông chí, tết Trung thu ở khoảng tiết Thu phân v.v… Tết Cả hay Tết Nguyên đán là nương theo cái tiết Lập Xuân. Có điều là giữa cái Văn hoá và cái tự nhiên có một độ dung sai nhất định, không hoàn toàn trùng khít với nhau.

Theo văn hoá học và lễ hội học, Tết Nguyên đán cũng có thể được xếp loại vào Hội mùa là một lễ lạt, sinh hoạt văn hoá theo mùa. Vậy Tết Nguyên đán là một Hội lễ nông nghiệp, một nghi thức nông nghiệp.

Cội nguồn

Không gian văn hóa – xã hội của Tết Nguyên đán là Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Cả Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản đã có những thời kỳ dài tuyên bố chính thức bỏ cái Tết này vì đều sinh hoạt theo lịch mới Âu Tây – gọi là Dương lịch. Ở Việt Nam lẻ tẻ có ý kiến bỏ lịch cổ truyền và bỏ Tết nhưng Bác Hồ không đồng ý và nhân dân cũng phản ứng mãnh liệt. Nước ta chưa bao giờ bỏ Tết, dù đã chính thức dùng Dương lịch trong các công sở, cơ quan Nhà nước từ hàng trăm năm nay. Điều đó chứng tỏ với thời gian và văn hiến nghìn năm, cái tết đã hằn sâu trong tâm thức dân gian Việt Nam. Nhiều nơi ở nước ta, nhất là trong nhân dân đô thị, người ta đã “quên dần tết Hàn Thực, tết Cơm mới, cả tết Đoan Ngọ nữa – Nhưng Tết Nguyên đán đầu Xuân và Tết giữa Thu thì cả đô thị lẫn nông thôn đều không bỏ. Cho dù đó là những nhân tố ngoại sinh thì chúng đã được hội nhập hoàn toàn vào cấu trúc văn hoá Việt Nam.

Ai cũng biết Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam là những vùng “ngoại biên” của văn minh Trung Hoa và chịu ảnh hưởng đậm đà theo những khía cạnh khác nhau, với những nồng độ khác nhau, độ sâu nông khác nhau và những góc khúc xạ khác nhau của văn minh Trung Hoa. Một cái Tết chung cho cả 4 nước trên dễ cho người ta cảm nhận rằng Tết đó vốn có cội nguồn Trung Hoa.

Trong các tộc người của cộng đồng quốc gia Việt Nam, tộc Việt chịu ảnh hưởng Trung Hoa sớm nhất và mạnh nhất và cũng “văn hiến” nhất. Có sự giao thoa văn hoá Việt Hoa – cả cưỡng bức và tự nguyện – qua hơn ngàn năm Bắc thuộc, bắt đầu từ hàng thế kỷ trước công nguyên, rõ rệt nhất là thời Hán Vũ đế (111 tr CN). Tết trước hết là Tết của người Việt.

Tết như hiện nay bắt đầu khoảng trước Công nguyên hơn 100 năm, từ đời Hán và có cội nguồn đan xen văn hoá Việt – Hoa. Văn minh Trung Hoa bắt nguồn từ bình nguyên hoàng thổ Hoàng hà, cùng với sự bành trướng của người Hoa xuống phương Nam, đã tích tụ và hội nhập nhiều nhân tố văn hoá phương Nam, miền Việt cổ. Lâu dần, với văn tự và thư tịch Trung Hoa, mọi nhân tố văn hoá Việt cổ ấy đã được xem là của người Hoa và đã được “Hoa hoá”. Về sau, người ta gán mọi thành tựu sáng tạo văn hoá cho người Hoa. Sự thực văn minh Trung Hoa là kết quả tích tụ và kết tinh nhiều nhân tố văn hoá của nhiều tộc người – Hoa và phi Hoa – ở vùng Đông Á và Đông Nam Á.

Triết lý Tết và nghi thức Tết cổ truyền

Tết là sự đón mừng Năm Mới, mừng cái Mới và hy vọng vào sự Đổi mới. Nhà Nho nói:

“Nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân” (Đại học)

(Mỗi ngày một mới, mỗi ngày một mới, lại mỗi ngày một mới).

Nhưng Nguyên – Đán là ngày đổi mới quan trọng nhất, vì đó là ngày Đầu năm mới.

Định kỳ Tết là theo chu kỳ năm.

Thời gian chu kỳ là thời gian nông nghiệp, thời gian của những nền văn minh thôn dã.

Người ta nương theo chu kỳ của cây cối, cây trồng:

“Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu thu, Đông tàng” (hay Thu hoàng, Đông tàn)

(Mùa Xuân sinh sôi, mùa Hè tăng trưởng, mùa Thu gặt hái, mùa Đông chứa đựng).

Vì vậy Xuân là Sinh mà Xuân cũng có nghĩa là Xanh:

“Cái hoa xuân nở, cái lá xuân xanh

Ai muốn chiết cành hãy đợi mùa xuân”

Tết, dù được định ở trước hay sau ngày Lập Xuân tuỳ từng năm nhưng theo cái nhìn văn hoá – xã hội thì cũng ở sự mở đầu của mùa Xuân.

Triết lý Tết cổ truyền là cái nhìn tâm linh huyền thoại mang tính biểu trưng, với nhiều biểu tượng và pha mầu Đạo giáo. Bẩy ngày trước ngày đầu năm mới, tức 23 tháng Chạp là ngày chết tạm thời của vũ trụ, theo ước lệ. Bẩy (7) là con số thiêng biểu tượng của vũ trụ, chỉ cái Toàn thể, như 3 hồn ở Tim; 7 vía ở Rốn trong toàn thể hồn vía một người đàn ông: như Đức Phật sơ sinh bên Ấn Độ bước đi 7 bước, tức khắp vùng thế giới.

Một ước lệ khác: Hôm ấy ông Công, ông Táo – vị thần tuy 3 mà 1 trong “Tam vị nhất thể” Thổ công – Thổ địa – Thổ kỳ của Đạo giáo được Việt Nam hóa thành huyền tích “2 ông 1 bà”- vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc – bản nguyên của Nhà từ khi có lửa trong lịch sử loài người, “tách hẳn khỏi giới động vật” – cưỡi Cá Chép bay lên Trời để lại dưới hạ giới một cảnh tượng vô chủ – tâm linh. Ngày 23 Tết được gọi là Tết Ông Công Ông Táo. Người ta làm cỗ cũng tiến “ông Táo chầu Giời”, người ta mua cá chép sống rồi thả “phóng sinh” xuống ao hồ sông lạch. Nét biện chứng: Từ trong cái chết đã gieo mầm sự sống. Một nét biện chứng khác: Ngày 23 tháng Chạp, người ta dựng Cây Nêu. Cây nêu mang ý nghĩa phổ quát của Cây Vũ Trụ; còn gọi là cây Mặt Trời. Để xã hội hài hoà và tương thích với vũ trụ thì từ ngày 23 Tết mọi công việc làm ăn đồng áng – buôn bán – cũng tạm dừng; từ đây không ai được vào rừng khai thác, thu lượm cái gì nữa. Xưa các công thư huyện – tỉnh – trấn xứ và triều đình đều đóng cửa nghỉ việc từ hôm đó, sau khi đã làm lễ “hạp ấn” (niêm phong mọi con dấu, ấn triện…). Đến nhà tù – nói chung – cũng không tiếp nhận tù nhân mới. Tóm lại đó là sự dừng nghỉ hoàn toàn, để hợp với cái chết tạm thời của vũ trụ.

Nghi thức quan trọng thứ hai của Tết sau Tết Ông Công là giây phút Giao thừa, điểm thời gian chuyển tiết giữa năm Cũ – năm Mới, được huyền thoại quan niệm như sự giao hoà Âm – Dương, phối ngẫu Đất Trời, để từ trong cái Chết – Cũ nảy sinh sự Sống – Mới… Giao hoà, giao hợp là triết lý Phồn Thực.

Một ông Táo mới – hay cũ mà đổi mới – lại xuống trần thế làm chủ nhà – bếp – đất một năm mới. Người ta bầy một mâm cỗ cúng ở ngoài sân để đón ông, mừng ông. Người ta còn thay những Ông Đầu Rau cũ bằng những Ông mới.

Tín ngưỡng cơ bản của người tiểu nông Việt Nam trồng lúa nước cổ truyền, pha đậm đặc thêm bởi ảnh hưởng Đạo Nho, là sự thờ cúng tổ tiên.

Tháng 12 lịch cổ truyền là tháng Lạp – Chạp, người ta đi “chạp mả”, sửa sang, thắp hương trên các mộ phần, khấn khứa mời ông bà ông vải tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu…

Cùng với mâm cỗ cúng Ông Táo cũ 23 tết là cỗ cúng tổ tiên. Cùng với mâm cỗ cúng đón Ông Táo mới phút giao thừa ngoài sân là mâm cỗ cúng Tổ Tiên trên bàn thờ trong Nhà, gian giữa.

Và 3 ngày hay 5 ngày đầu năm mới là 3 – 5 ngày thường xuyên sửa cỗ cúng Tổ Tiên hưởng “hương hoa”; còn con cháu thụ lộc trong tinh thần Cộng Cảm (communion) gia đình – thân quyến.

Tình cảm gia đình của người Việt Nam xưa rất nặng:

Tháng Giêng ăn Tết ở nhà

Dù đi làm ăn buôn bán nơi đâu quanh năm suốt tháng, gần ngày Tết người ta cũng tìm mọi cách trở về quê, về nhà để cúng Tổ tiên, sum họp gia đình, cộng cảm cùng thân quyến nội ngoại.

Như trên đã nói lối sống, thế ứng xử Việt 3 ngày Tết cổ truyền là:

Mồng Một thì ở nhà Cha

Mồng Hai nhà Mẹ, mồng Ba nhà thầy

Đó là đạo đức hiếu lễ, đạo đức “tôn sư” của Nho phong.

Vì Tết là Đổi Mới, là Sức Sống Mới nên gam màu chủ đạo của việc trang trí Tết là màu Đỏ- tượng trưng mầu Máu, màu của Sự Sống và Sự Tái Sinh, theo quan niệm nguyên thuỷ và được bảo lưu tại văn hoá phương Đông: Pháo đỏ, câu đối đỏ, tranh Tết đều có mầu đỏ.

Tết là sự trình diễn những món ăn dân tộc: Giò, Chả, Vây bóng, Thịt mỡ dưa hành.

Đúc kết biểu trưng Tết, không gì cô súc bằng đôi câu đối:

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ.

Cây nêu- tràng pháo- bánh trưng xanh.

Như bất cứ lễ hội nào Tết cũng có những thủ tục và những điều kiêng kị. Thủ tục tắm gội tất niên, mặc quần áo mới, nói lời hay ý đẹp, chúc tụng nhau năm mới, hái lộc, xuất hành, khai bút.v.v… Đời Lý Trần có tục lệ rất hay: Trai gái nhà nghèo tự ý ăn ở lấy nhau lúc Giao thừa. Kiêng kị ăn nói thô tục rất thường xảy ra trong dân dã đời thường, kiêng quét nhà đổ rác ngày đầu năm mới (sợ mất lộc), người có tang kiêng đến nhà người khác đầu năm mới v.v…

Sau 3 ngày hay 5 ngày, người ta làm lễ và cỗ cúng “hoá vàng”, đốt tiền giấy và tiễn tổ tiên về lại thế giới của người đã khuất. Từ dương cơ người đang sống, tổ tiên trở lại chốn âm phần.

Từ phút Giao thừa, sự sống hồi sinh tới ngày 7 thì được coi là hoàn toàn hồi phục.

Mồng 7 tết là ngày Khai hạ, hạ nêu coi như mừng kết thúc Tết. Người ta lại làm lễ “mở cửa rừng” nơi rừng núi để dân đi lại vào rừng tự do. Người ta lại làm lễ “khai ấn” ở các công thự quan lại và triều đình.

Mọi sinh hoạt đời thường được xem là tiếp tục…

Ngày xưa “ra Giêng ngày rộng tháng dài”, cái Tết chủ yếu diễn ra trong phạm vi gia đình, người ta bước vào mùa Hội hè đình đám, mùa sinh hoạt cộng đồng với “gái tháng Hai giai tháng Tám”: Hội xoan đất Tổ quan họ Bắc Ninh, hội pháo Đồng Kỵ ngay từ mồng 4 Tết (là sinh hoạt cộng đồng sớm nhất) và các “hội làng” rải rác suốt mấy tháng Xuân; Người ta trẩy hội chùa Hương tháng Hai cho đến hội chùa Dâu tháng Tư và chỉ kết thúc với hội Gióng, hội Đầu mùa mưa.

Sau đó lại là một mùa làm ăn mới, với bao nỗi lo âu và bất trắc…

Tết văn hoá mới

Dương lịch được chính thức áp dụng trong các công sở Đông Dương từ thời thuộc Pháp. Nhưng người dân quê tiểu nông tiểu thương thì vẫn sinh hoạt theo Lịch truyền thống, từ các lễ hội cho đến các phiên chợ quê…

Sau đó, Dương lịch không chỉ dừng ở công sở, nhà máy, trường học – nay đã tăng lên rất nhiều – mà bắt đầu xâm nhập vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp trung ương địa phương, với các giống má mới và các qui định thời vụ mới…

Tâm thức dân gian ở vào thế lưỡng với hai hệ Qui chiếu thời gian. Cho đến nay thì hai hệ ấy vẫn song hành, hệ Dương lịch trở thành hệ chính thống và hệ truyền thống trở thành hệ dân gian.

Hệ văn hoá dân gian với cái Tết và các tết, với các lễ hội truyền thống tới những năm cuối của thập kỷ 50 thì vẫn vậy. Nhưng từ đó thì Lễ hội gần như đứt đoạn và gần như bị cấm đoán ngăn trở một cách không chính thức. Nhiều cái tết con nhạt nhoà dần. Riêng Tết Cả, Tết Nguyên Đán thì vẫn tỏ rõ sức sống mãnh liệt hơn. Trong thời gian trước sau Tết Cả thì tập tục vẫn còn khá mạnh; nhịp điệu làm việc của Quý I hàng năm theo Dương lịch vẫn không thật khẩn trương. Ngày nghỉ đầu năm mới Dương lịch vẫn không ra một sinh hoạt văn hoá dân gian. Mấy năm gần đây nhiều lễ hội đã được khôi phục. Với chính sách cởi mở hơn, sinh hoạt văn hoá dân gian lại có phần hồi sinh và khởi sắc. Có một ý kiến lý thú của V.I. Lê nin: “Cần khôi phục các lễ hội dân gian nhưng cũng cần giải thiêng chúng đi”. Cuộc sống là mênh mông. Cuộc sống sẽ có lời giải đáp về Tết nhất và lễ hội dân gian…

GS Trần Quốc Vượng
Sưu tầm Internet

Proudly powered by WordPress
Theme: Esquire by Matthew Buchanan.